Trương Thị Hồng Hà

Tạp chí NCLP

1. Thực trạng thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội

Thực trạng triển khai các hình thức và phương pháp giám sát của Quốc hội

Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan, để thực hiện chức năng giám sát của mình, Quốc hội phải sử dụng các hình thức giám sát như giám sát các văn bản quy phạm pháp luật, xét báo cáo, chất vấn, thành lập đoàn giám sát tại địa phương và giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và kiến nghị của cử tri. Trên thực tế, khi tiến hành các hoạt động giám sát, Quốc hội, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và các cơ quan của Quốc hội chưa thực hiện có hiệu quả các hình thức giám sát nêu trên, đồng thời chưa có sự kết hợp các hình thức giám sát. Các hoạt động giám sát thường được tiến hành một cách biệt lập nên Quốc hội chưa phát huy được những hình thức giám sát pháp luật cho phép để thực hiện hoạt động giám sát một cách có hiệu quả nhất. Những hình thức giám sát và phương pháp giám sát này đã bộc lộ những tồn tại sau:

Về hình thức chất vấn của đại biểu Quốc hội

- Trong các kỳ họp, không phải ĐBQH nào cũng thực hiện hình thức chất vấn mà chỉ có khoảng 20% đến 25% số ĐBQH sử dụng quyền này. Thậm chí còn có nhiều ĐBQH suốt cả nhiệm kỳ không sử dụng hình thức chất vấn này một lần nào. Hơn nữa, khi thực hiện hình thức chất vấn, có nhiều ĐBQH không có kỹ năng chất vấn nên còn lúng túng trong phương pháp thực hiện quyền chất vấn, như: phương pháp tranh luận như thế nào, đối thoại sử dụng ra sao?

Ngoài ra, giữa hai kỳ họp của Quốc hội, số lượng các ĐBQH gửi chất vấn đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để UBTVQH chuyển chất vấn đến những cá nhân và những cơ quan bị chất vấn rất ít, thường có khoảng 5 đến 10 chất vấn, cũng có khi không có chất vấn nào. Trong thời gian gần đây, số lượng chất vấn giữa hai kỳ họp Quốc hội giảm đáng kể. Thực tiễn này đã không đáp ứng được tính chất thường xuyên, liên tục của hoạt động chất vấn.

- Các ĐBQH chưa thực hiện đúng các quy định pháp luật về hoạt động chất vấn. Điều này thể hiện ở chỗ: trường hợp không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì ĐBQH có quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luận tại phiên họp khác của Quốc hội hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn[1]. Hoặc đối với trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước UBTVQH hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản[2]. Song trên thực tế, các ĐBQH không đồng ý với trả lời chất vấn, nhưng cũng không thực hiện quyền đề nghị Quốc hội tiếp tục thảo luận hoặc tiến hành các hoạt động điều tra để xác định trách nhiệm của người trả lời chất vấn. Thực trạng này cho thấy, mặc dù đã có quy định của pháp luật và hoạt động chất vấn có tăng lên về số lượng, nhưng chất lượng vẫn chưa có nhiều chuyển biến.

- Hoạt động chất vấn của ĐBQH và hoạt động trả lời chất vấn tại phiên họp Quốc hội không được Quốc hội đánh giá bằng hình thức “ra nghị quyết”, do đó, nhân dân cũng không có cơ sở để đánh giá, nên không thấy hết tác dụng của hoạt động chất vấn, chất vấn vì thế đáng ra là một công cụ hữu hiệu nhưng trong thực tiễn lại chưa được thể hiện hết công dụng của nó.

Về hình thức giám sát văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Theo báo cáo tổng kết của Quốc hộiT, công tác giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội còn nhiều hạn chế trong việc giám sát văn bản pháp luật. Nhìn chung hiệu quả thấp. Có những luật, pháp lệnh sau khi được thông qua không được quan tâm giám sát việc thi hành, nhất là các văn bản dưới luật, như: hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chưa được Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, ĐBQH quan tâm đúng mức[3]. Nếu căn cứ vào quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật theo một trình tự nhất định thì trên thực tiễn, Quốc hội chưa lần nào thực hiện hình thức giám sát văn bản quy phạm pháp luật như vậy.

Về hình thức giám sát thông qua việc thành lập các đoàn giám sát tại địa phương

Việc thực hiện hình thức này còn thể hiện nhiều bất cập và hạn chế. Đó là việc các Uỷ ban tiến hành khá lớn số lượng các đoàn đi giám sát thực tiễn. Lĩnh vực được giao giám sát lại quá rộng nên chưa thể bao quát hết toàn bộ nội dung mà chương trình giám sát của Uỷ ban đã đề ra. Bên cạnh đó, việc phối hợp hoạt động giám sát giữa các Uỷ ban chưa chặt chẽ theo một chương trình, kế hoạch giám sát thống nhất dẫn đến việc cùng một vấn đề của một địa phương lại có những đoàn khác nhau giám sát, đôi khi còn trùng cả thời điểm giám sát. Thực trạng này đã được một số ĐBQH và nhân dân nhận xét “tình trạng ĐBQH thực hiện quyền giám sát của mình một cách hình thức, còn thụ động và chưa làm hết trách nhiệm, hầu như chỉ đi xuống nghe địa phương báo cáo rồi ra về làm kiến nghị”[4]. Vì vậy, chưa có thể hội đủ thông tin, các yếu tố cần thiết để kết luận, kiến nghị cụ thể về vấn đề được giám sát.

Về hình thức giám sát giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân

Đây là một hình thức được đánh giá là khâu yếu nhất của việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội. Việc giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân mới chỉ được thực hiện bằng cách các ĐBQH hay các cơ quan của Quốc hội nhận đơn và chuyển đơn, việc đôn đốc giải quyết những đơn thư khiếu nại tố cáo đó chưa được đẩy mạnh. Tình trạng một số kiến nghị, khiếu nại của công dân thông qua các đại biểu gửi đến các cơ quan chức năng đã không được giải quyết đến nơi đến chốn, thậm chí “quên” trả lời[5]. Bên cạnh đó, pháp luật chưa quy định Quốc hội có một Uỷ ban thuộc Quốc hội phụ trách giám sát việc giải quyết những đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân dẫn đến hậu quả khi có đơn thư khiếu nại, tố cáo chuyển đến thì ngay cả việc chuyển thư đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết cũng chưa được Quốc hội xử lý kịp thời dẫn tới tình trạng đơn thư tồn đọng nhiều. Hơn nữa lại chưa có chế tài để buộc các cơ quan phải xem xét nghiêm túc và trả lời các yêu cầu của ĐBQH mà pháp luật mới chỉ quy định ĐBQH và Đoàn ĐBQH có quyền kiến nghị, yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết.

Về hình thức xét báo cáo

Những năm gần đây, hoạt động xét báo cáo của Quốc hội đã được chú trọng, tuy nhiên vẫn còn thể hiện nhiều bất cập trong hình thức và phương pháp xét báo cáo.

Theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 thì hoạt động xét báo cáo của Quốc hội dựa trên cơ sở hoạt động thẩm tra báo cáo của Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội. Thông qua hoạt động thẩm tra, các báo cáo công tác của đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội được đánh giá mức độ chính xác, trung thực và khách quan. Hoạt động thẩm tra báo cáo thời gian qua đã thể hiện sự hạn chế, như: không phát hiện được nhiều điểm bất cập, mâu thuẫn trong thực tiễn hoạt động, thường là đồng tình với các bản báo cáo. Các báo cáo thẩm tra với bản chất là phản biện mang tính xây dựng, hợp tác rất ít. Bên cạnh đó, số lượng các thành viên của Uỷ ban thường được cơ cấu từ các đại biểu công tác tại các cơ quan hành chính địa phương nên khi thẩm tra báo cáo thường ít nhận được các ý kiến đóng góp của những đại biểu này.

Hình thức thành lập ủy ban lâm thời: Trong thực tiễn Quốc hội chưa một lần nào thực hiện các quy định pháp luật về hình thức giám sát này để tiến hành giám sát.

Trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội

Trình tự, thủ tục của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội thời gian vừa qua đã bộc lộ những yếu kém sau:

Thứ nhất, tính khoa học không được đảm bảo trong quy trình, thủ tục giám sát ở hầu hết các hình thức giám sát của Quốc hội. Trong thực tế hoạt động giám sát của Quốc hội, đối với một lĩnh vực giám sát đòi hỏi phải có một quy trình giám sát riêng, nếu áp dụng trình tự, thủ tục giám sát chung chung sẽ không mang lại hiệu quả giám sát như mong muốn. Đặc biệt là vấn đề giám sát ngân sách, giám sát tư pháp đòi hỏi quá trình thẩm tra báo cáo về ngân sách, về hoạt động tư pháp phải có một trình tự, thủ tục riêng mới đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về tính khoa học và chính xác của hoạt động giám sát này.

Thứ hai, việc tuân thủ các trình tự, thủ tục giám sát mang tính hình thức. Các chủ thể tham gia hoạt động giám sát thực hiện trình tự, thủ tục một cách qua loa, chiếu lệ nên hiệu quả không cao. Điều này thể hiện ở trong tất cả các hình thức giám sát.

Thứ ba, trình tự, thủ tục giám sát của Quốc hội hiện nay là một quy trình khép kín, không tạo ra quy trình mở để huy động các chủ thể khác cùng tham gia giám sát cũng như các cơ quan, tổ chức hữu quan, tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp và cá nhân công dân tham gia (kết hợp các hình thức giám sát).

Thứ tư, trình tự, thủ tục giám sát của Quốc hội chưa mang tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn nên không đáp ứng được tính chất tối cao của hoạt động giám sát của Quốc hội. Điều này thể hiện rõ nét trong hình thức bỏ phiếu tín nhiệm. Quy định tại Điều 13 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 về việc Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm là một quy định có thể nói vừa mang tính nguyên tắc, vừa mang tính thủ tục, song lại là một thủ tục khó được áp dụng trong thực tế. Khó thực hiện ngay ở việc quy định chủ thể có quyền trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm là UBTVQH, 20% ĐBQH, kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội. Hiện nay, hoạt động giám sát của Hội đồng Dân tộc và Uỷ ban của Quốc hội thể hiện nhiều trong việc thẩm tra báo cáo, xem xét văn bản, tổ chức đoàn giám sát, cử thành viên đến cơ quan, tổ chức hữu quan xem xét, xác minh vấn đề mà Hội đồng và Uỷ ban quan tâm, tổ chức nghiên cứu và xử lý, xem xét việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Đây là một công đoạn, một quy trình của toàn bộ hoạt động giám sát của Quốc hội nên nó không mang tính liên tục, các kiến nghị của Hội đồng và Uỷ ban chưa mang tính quyết định cuối cùng đến việc quy định hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát, vì vậy Hội đồng và Uỷ ban chưa có cơ sở chắc chắn nên ít khi sử dụng quyền kiến nghị về việc bỏ phiếu tín nhiệm do luật định. Tương tự như thế, UBTVQH thông qua hoạt động của mình giữa hai kỳ họp và một số hoạt động luật định về giám sát hầu như không bao giờ có nhu cầu và cũng không có cơ sở đưa ra các kiến nghị đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm. Hoạt động giám sát của các cơ quan này kết hợp với hoạt động giám sát của ĐBQH sẽ là cơ sở để ĐBQH thực hiện quyền kiến nghị của mình về việc đề nghị Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm. Do đó, việc quy định cho quá nhiều cơ quan có thẩm quyền trình kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm là một vấn đề thừa. Ngoài ra, quy định cho 20% ĐBQH kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm như ở Việt Nam là một con số khó có thể đạt được trên thực tế. Trong khi đó, trong hoạt động giám sát của Quốc hội một số nước trên thế giới, con số này được giới hạn ở 5 đến 10% tổng số ĐBQH, thậm chí có nước quy định chỉ cần 01 ĐBQH có kiến nghị, Quốc hội đều phải xem xét, thảo luận đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm. Hơn thế nữa, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 chưa quy định trình tự, thủ tục cụ thể cho hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội. Không có quy định kiến nghị trình bỏ phiếu tín nhiệm phải được thể hiện bằng văn bản theo hình thức nào, 20% ĐBQH kiến nghị thể hiện bằng chữ ký hay chỉ nêu tên. Đặc biệt, theo những quy định tại Điều 13, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 thì việc bỏ phiếu tín nhiệm lại không theo một trình tự khoa học, bởi chưa có thủ tục trình bày lý do bỏ phiếu tín nhiệm trước Quốc hội thì đã có thủ tục người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quyền trình bày ý kiến của mình trước Quốc hội, rồi đến ngay thủ tục Quốc hội thảo luận và bỏ phiếu tín nhiệm. Bên cạnh đó, việc Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức không phải là thủ tục do Quốc hội thực hiện ngay sau khi có kết quả bỏ phiếu mà phải sau thủ tục trình Quốc hội do cơ quan hoặc người đã giới thiệu để bầu hoặc đề nghị phê chuẩn người đó thực hiện. Về mặt thực tế, đây là một thủ tục thừa. Về mặt lý thuyết, thủ tục này có thể dẫn đến tình trạng Quốc hội đã bỏ phiếu tín nhiệm, nhưng không được nửa tổng số ĐBQH tín nhiệm mà cơ quan hoặc người đã giới thiệu để bầu hoặc đề nghị phê chuẩn không tiến hành thủ tục trình Quốc hội thì Quốc hội không thể đưa ra quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người đó được.

3. Nguyên nhân hạn chế của việc thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội

Thứ nhất, sự yếu kém về năng lực thực hiện chức năng  giám sát. Hiện nay, năng lực giám sát của ĐBQH kiêm nhiệm và chuyên trách chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của hoạt động giám sát của Quốc hội. Các ĐBQH không đủ điều kiện thời gian, vật chất và thiếu thông tin, kỹ năng giám sát để thực hiện chức năng giám sát một cách có hiệu quả.

Thứ hai, sự phối hợp thiếu nhịp nhàng của các cơ quan của Quốc hội. Sự phối hợp thiếu nhịp nhàng của các cơ quan của Quốc hội được thể hiện trong việc chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động giám sát của UBTVQH với các Uỷ ban của Quốc hội còn chưa thật sự sâu sát, cụ thể và thường xuyên.

Sự không hợp lý về cơ cấu tổ chức của Quốc hội còn được thể hiện ở chỗ, Quốc hội không có một Uỷ ban chuyên môn chịu trách nhiệm về hoạt động giám sát. Trong khi đó, giám sát là một trong ba chức năng cơ bản, quan trọng của Quốc hội và trên thực tế, việc thực hiện chức năng giám sát luôn được coi là khâu yếu nhất trong hoạt động của Quốc hội, đặt Quốc hội vào tình trạng chưa thật sự thể hiện là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.

Thứ ba, hiện nay, chúng ta đã có Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội. Song các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn và thiếu các quy định về trình tự, thủ tục giám sát một cách hữu hiệu. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát còn thể hiện sự chưa đầy đủ, còn chung chung, nằm tản mạn ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, thậm chí giữa các văn bản pháp luật về cùng một vấn đề lại mâu thuẫn nhau khiến cho việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội gặp nhiều khó khăn.

Mặt khác, thiếu sự tổng kết, rút kinh nghiệm đầy đủ về công tác giám sát, để trên cơ sở đó hoàn thiện luật về hoạt động giám sát của Quốc hội. Một số vấn đề như cơ chế phối hợp giám sát giữa các cơ quan của Quốc hội, phạm vi trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc tiếp thu và trả lời kiến nghị giám sát của UBTVQH và các cơ quan của Quốc hội… chưa được pháp luật quy định cụ thể làm hạn chế hiệu quả công tác của Quốc hội.

Thứ tư, việc xây dựng chương trình giám sát còn có chỗ chưa bám sát vào yêu cầu thực tế của cuộc sống và các Nghị quyết của Quốc hội, nhất là Nghị quyết về nhiệm vụ và ngân sách hàng năm.

Thứ năm, chất lượng của hoạt động giám sát còn nhiều hạn chế, chưa đi sâu, chưa phát hiện và đề xuất giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, chủ yếu là do phương thức, do năng lực, trình độ, do nể nang, né tránh. Nhiều cơ quan nhà nước chưa nghiêm túc thực thi pháp luật và cũng chưa thực sự coi trọng hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; do đó có nhiều kiến nghị qua giám sát chưa được thực sự tập trung xem xét, giải quyết nghiêm túc.

Thứ sáu, bộ máy giúp việc của Quốc hội chưa thực sự phát huy hết khả năng để phục vụ cho Quốc hội thực hiện tốt chức năng giám sát của mình.

Thứ bảy, do có sự yếu kém về cơ sở vật chất. Hiệu quả của việc thực hiện chức năng giám sát liên quan trực tiếp đến việc Quốc hội có đáp ứng đầy đủ về cơ sở vật chất cho các chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động giám sát không. Hiện nay, hoạt động giám sát của Quốc hội được đảm bảo bằng một cơ sở vật chất chưa thực sự đầy đủ về phương tiện đi lại, phương tiện làm việc, thông tin liên lạc và bộ máy giúp việc.

4. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng của việc thực hiện pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội

Thứ nhất, đổi mới nhận thức lý luận và thực tiễn về quyền giám sát t?i cao và chức năng giám sát của Quốc hội

- Coi giám sát là một trong ba chức năng quan trọng của Quốc hội, khắc phục tình trạng chỉ coi trọng chức năng lập pháp và coi nhẹ chức năng giám sát.

- Quyền giám sát tối cao phải được coi là quyền giám sát của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước chứ không phải là chỉ đối với “tầng cao nhất” trong bộ máy nhà nước.

- Cần thống nhất một cách hiểu rằng, không có sự phân cấp trong việc thực hiện quyền giám sát của Quốc hội. Bởi lẽ, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là hoạt động do Hiến pháp quy định nhằm thực hiện chức năng đại diện. Hiến pháp không cho phép Quốc hội ủy quyền giám sát cho một cơ quan nào mà quyền giám sát đó phải do Quốc hội thực hiện theo quy trình giám sát. Hơn thế nữa, để bảo đảm tính thường xuyên, liên tục, không bị ngắt quãng trong việc thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội, càng không thể có cơ sở để phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội trong kỳ họp và ngoài kỳ họp mà cần hiểu rằng, ở bất kỳ thời điểm nào, hoạt động giám sát của Quốc hội đều có thể được tổ chức thực hiện và có hiệu lực trực tiếp tới đối tượng chịu sự giám sát khi hoạt động giám sát đó đã hoàn thành hết quy trình giám sát.

Thứ hai, thực hiện pháp luật về giám sát tối cao của Quốc hội cần quán triệt các quan điểm chính sau:

- Quán triệt nguyên tắc đảm bảo tính đại diện của Quốc hội. Có đảm bảo nguyên tắc này thì mọi hoạt động giám sát của Quốc hội mới thực sự xuất phát từ những bức xúc của nhân dân, Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân.

- Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

- Việc thực hiện pháp luật giám sát của Quốc hội cần phải xuất phát trên cơ sở thực tiễn Việt Nam kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm hoạt động của Quốc hội một số nước trên thế giới.

- Việc thực hiện pháp luật về giám sát của Quốc hội cần bảo đảm tính hiện đại, chuyên nghiệp và khoa học. Bên cạnh đó, các chủ thể tiến hành hoạt động giám sát của Quốc hội phải có chuyên môn cao, có tư duy logic, kỹ năng phân tích, đánh giá các thông tin thu thập cùng với việc áp dụng thành thạo các kỹ thuật hiện đại, sử dụng tối đa các ưu thế của công nghệ thông tin để có được nguồn thông tin chính xác và nhanh nhất.

- Việc thực hiện pháp luật về giám sát phải bảo đảm tính công khai, minh bạch và quán triệt tinh thần tiết kiệm và hiệu quả.

Thứ ba, tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và các quy định pháp luật có liên quan nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Quốc hội thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát

Về thủ tục chất vấn và trả lời chất vấn, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội cần bổ sung quy định về những căn cứ làm cơ sở cho việc dự kiến danh sách những người có trách nhiệm trả lời chất vấn tại kỳ họp của UBTVQH. Quốc hội là chủ thể có quyền quyết định cao nhất về danh sách những người trả lời chất vấn và những câu hỏi chất vấn của ĐBQH sẽ được đưa ra chất vấn bằng miệng hoặc chất vấn bằng văn bản. Quyết định của Quốc hội cần được tiến hành trên cơ sở lấy biểu quyết của Quốc hội. Bên cạnh đó, để dự liệu cho những trường hợp khi một số chất vấn của ĐBQH không được UBTVQH đưa vào danh sách để Quốc hội quyết định thì Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội cần quy định những trường hợp đó cũng phải được Quốc hội đưa ra bỏ phiếu biểu quyết. Cần nghiên cứu hình thức liên danh chất vấn giữa một số các ĐBQH để bổ sung trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội để làm phong phú thêm cách thức chất vấn và làm cho vấn đề chất vấn được tập trung cũng như tạo sức ép đối với đối tượng bị chất vấn. Hiệu quả chất vấn có thể sẽ được nâng lên.

Chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội không nên chỉ tập trung vào 2 hoặc 3 ngày cuối kỳ họp mà nên coi chất vấn là một hoạt động phải được tiến hành thường xuyên trong suốt kỳ họp. Do đóC, nên bố trí mỗi ngày một giờ đồng hồ cho hoạt động chất vấn. Những vấn đề chất vấn và nội dung chất vấn, câu trả lời chất vấn, các kết luận về vấn đề chất vấn do Chủ toạ kết luận và Nghị quyết về vấn đề chất vấn (nếu có) cần phải được thể hiện theo quy trình cụ thể hơn và được ghi vào biên bản của kỳ họp Quốc hội, đồng thời được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Và để bảo đảm cho hoạt động giám sát của nhân dân đối với hoạt động của đại biểu dân cử, ngoài những thông tin được cung cấp trên báo chí và phương tiện truyền thông, nếu cử tri có yêu cầu được cung cấp thông tin về việc trả lời chất vấn trong kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội thì Quốc hội phải có kế hoạch cung cấp thông tin cho cử tri một cách đầy đủ, cụ thể và kịp thời.

Bổ sung hình thức chất vấn cho các cơ quan của Quốc hội để Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội được quyền chủ động trong giám sát. Có như vậy các vấn đề giám sát mới trở nên minh bạch và kịp thời khi các cơ quan của Quốc hội có đủ công cụ giám sát hữu hiệu.

Về thủ tục bỏ phiếu tín nhiệm, cần sửa đổi quy định về thẩm quyền trình Quốc hội xem xét vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm. Không nên chỉ quy định thẩm quyền này thuộc về UBTVQH mà phải xác định cho các chủ thể khác như: ĐBQH, Hội đồng Dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH. Trên cơ sở đó, Quốc hội biểu quyết và quyết định theo đa số phiếu. Để tránh sự tuỳ tiện trong việc trình kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, việc quy định số lượng nhất định ĐBQH là cần thiết, tuy nhiên nếu quy định là 20% tổng số ĐBQH, e rằng đây là con số quá lớn làm cho việc bỏ phiếu tín nhiệm khó áp dụng trong thực tiễn ngay từ giai đoạn trình kiến nghị. Do đó, theo chúng tôi, nếu không bỏ được việc hạn chế số lượng kiến nghị của ĐBQH thì nên áp dụng theo quy định của hầu hết các nước trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Thuỵ Điển là kiến nghị của ít nhất 10% tổng số ĐBQH hoặc cũng có thể căn cứ từ đề nghị của ít nhất là 10 đoàn ĐBQH. Bên cạnh đó, các chủ thể khi thực hiện quyền trình kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm phải kèm theo dự thảo Nghị quyết trình bày trước Quốc hội cơ sở của kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm.

Ngoài ra, để hoạt động giám sát thông qua chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội đạt được hiệu quả thì Quốc hội cần chú trọng tới hoạt động điều tra. Tuy nhiên, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội hiện hành chỉ quy định cho Uỷ ban lâm thời tiến hành hoạt động điều tra là chưa đủ. Hoạt động điều tra có thể do Quốc hội trực tiếp thực hiện và có thể được tiến hành ngay trong phiên chất vấn của Quốc hội với sự triệu tập nhân chứng. Nhân chứng ở đây có thể là lãnh đạo hoặc người trực tiếp thực hiện công việc cùng với đối tượng bị giám sát và các cá nhân có liên quan đến vụ việc. Trên cơ sở điều tra tại chỗ như vậy, Quốc hội và ĐBQH đánh giá được mức độ hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm của đối tượng bị giám sát để từ đó có cơ sở để thể hiện thái độ của mình đối với đối tượng bị chất vấn và nội dung chất vấn. Qua đó, Quốc hội có cơ sở khách quan hơn để ra Nghị quyết về việc trả lời chất vấn.

Bổ sung hoạt động điều tra cho các Uỷ ban của Quốc hội cũng là một vấn đề cần phải được cân nhắc trong thời gian tới, đặc biệt là trong xu thế chuyên môn hoá các uỷ ban vào từng lĩnh vực cụ thể. /.

[1] Điều 11, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003.

[2] Điều 98, Hiến pháp năm 1992.

[3] Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết 55/2005/QH11 29/11/2005 về kết quả giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[4] TS.Lê Hữu Thể, Một số suy nghĩ về việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, Kỷ yếu Hội thảo quá trình hình thành, phát triển và vai trò của QH trong sự nghiệp đổi mới, Văn phòng Quốc hội, Hà Nội, 2001, trang 13.

[5] GS.TS.Trần Ngọc Đường, Quyền giám sát tối cao và một số suy nghĩ về việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Kỷ yếu hội thảo về hoạt động giám sát của Quốc hội.

___________________________

Bài post trên đây được sử dụng với mục đích chia sẻ thông tin, nghiên cứu trao đổi… Bài post không vì mục đích thương mại hay bất kỳ các hình thức sinh lời nào khác.!

About these ads