Khái niệm chung về cán bộ, công chức

Theo Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 thì  Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh là công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và bao gồm 8 đối tượng sau;

a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện).canbo

b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

c) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

d) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị và tổ chức chính trị – xã hội;

đ) Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân;

e) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp;

g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);

h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.

2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a, b, c, đ, e, g và h khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước; cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.

Phân tích các hình thức kỉ luật cán bộ công chức:

Chế độ kỉ luật cán bộ công chức được hiểu là một chế định pháp luật, là tổng thể các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo trật tự, nề nếp hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức. Thuật ngữ kỉ luật còn được hiểu là sự chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của chế độ kỉ luật .

Hành vi vi phạm Hành chính của cán bộ, công chức có thể là hành động ( cán bộ công chức vi phạm các quy định về điều cấm) hoặc không hành động ( không thực hiện nhiệm vụ đưộc phân công). Chỉ cần có hành vi hành động hoặc không hành động cùng các dấu hiệu khác của cấu thành vi phạm kỉ luật là đã có thể truy cứu trách nhiệm kỉ luật là đã có thể truy cứu trách nhiệm kỉ luật bất luận hậu quả đã xảy ra hay chưa? Đây chính là dấu hiệu hình thức của vi phạm kỉ luật.

Khi có hành vi vi phạm kỉ luật gây ra hậu quả thì trực tiếp cần xác định cụ thể mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hậu quả đó xem xét tính đến việc lựa chọn biện pháp xử lí đối với người vi phạm. Nếu gây thiệt hại về tài sản đó là cơ sở để áp dụng biện pháp trách nhiệm bồi thường vật chất.

Theo quy định tại Chương II Mục I Điều 8 Nghị định Chính phủ số:35/2005/NĐ – CP ngày 17/03/2005 Về việc xử lí kỉ luật cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức vi phạm các quy định của pháp luật thì phải chịu một trong các hình thức kỉ luật sau:

Đối với hình thức kỉ luật trên được hiểu cụ thể như sau:

Khiển trách : Áp dụng với cán bộ, công chức khi có hành vi vi phạm kỉ luật lần đầu, nhưng ở mức độ nhẹ.

Ví dụ: Cán bộ, công chức là giáo viên bị khiển trách khi lên lớp muộn giờ theo quy định chung của nhà trường;

Cảnh cáo: Áp dụng đối với công chức đã bị khiển trách nhiều lần mà tái phạm hoặc vi hạm ở mức độ nhẹ nhưng khuyết điểm có tính chất thường xuyên hoặc tuy mới vi phạm lần đầu nhưng tương đối nghiêm trọng;

Ví dụ: Chị A là nhân viên ơ quan hành chính X đã nhiều lần bỏ vị trí làm việc trong giờ hành chính mà không rõ lí do vì vậy đã bị ông C trưởng phòng tổ chức cảnh cáo về hành vi bỏ vị trí của chị A.

Hạ bậc lương: Áp dụng với công chức có hành vi vi phạm nghiêm trọng thực hiện nhiệm vụ, công vụ

Theo Thông tư số 05/1999/TT – TCTP ngày 27/03/1999 của ban tổ chức –  cán bộ Chính phủ hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 97/1998/NĐ – CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về xử lí kĩ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức ( sửa đổi bổ sung 2005) thì hình thức hạ ngạch lương được thực hiện theo nguyên tắc sau:

Hạ từ bậc của ngạch chuyên môn công chức đang giữ xuống bậc thấp hơn liền kề ngạch đó.

Trường hợp công chức đang giữ hệ số lương ở bậc một của ngạch chuyên môn thì thực hiện việc kéo dài thời gian, nâng bậc thêm một thâm niên nâng bậc của ngạch…

Ví dụ: Bà A đang giữ bậc một của ngạch giáo viên phổ thông  ( mã số 15114 ) hệ số lương 1,57 ngày 1/5/1997, tháng 1/1999 bà đã làm mất sổ điểm của khối học sinh chuẩn bị dự kì thi tốt nghiệp thì bị xử lí kỉ luật ở hình thức hạ bậc lương. Vậy bà A đến 1/5/2002 mới được nâng lên bậc thứ hai nếu bà A không tái phạm và không có những vi phạm đến mức xử lí kỉ luật

Hạ ngạch: Áp dụng với công chức có hành vi vi phạm nghiêm trọng mà xét thấy không còn đủ phẩm chất, đạo đức và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn của ngạch đang đảm nhiệm

Hình thức hạ ngạc được thực hiện theo nguyên tắc: Hạ ngạch từ ngạch chuyên môn công chức đang giữ xuóng ngạch thấp hơn liền kề và chuyển ở hệ số lương của ngạch bị hạ xuống tương đương ứng với hệ số lương của ngạch được hưởng trước khi xử lí kỉ luật

Ví dụ: Ông B đang giữ ngạch chuyên viên chính hệ số lương là 3,63 nhưng do ông B đã vi phạm quy định cấm sinh con thứ ba của Nhà nước do vậy , ông B đã bị hạ ngạch  từ chuyên viên chính xuống ngạch chuyên viên xếp hạng lương 3,56.

Cách chức: Áp dụng đối với cán bộ, công chức có chức vụ mà hành vi vi phạm nghiêm trọng xét thấy không thể đảm nhiệm chức vụ được giao.

Ví dụ: Ông C là giám đốc của một doanh nghiệp Nhà nước, nhưng do sự chỉ đạo và các thức tổ chức làm việc của ông C có nhiều khiếu điểm sai lầm nên đã dẫn đến doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và đứng trước nguy cơ phá sản. Do vậy cấp trên cách chức giám đốc của ông C đưa người khác lên thay.

Buộc thôi việc: Áp dụng đối với công chức phạm tội bị tòa án phạt tù mà không hưởng án treo.

Ví dụ: Bà C là hiệu trưởng của trường mần non X  đã cắt xém khẩu phần ăn hằng ngày của các cháu học sinh trong trường để thu lời cho mình trong suốt một thời gian dài với số tiền lên tới 200 triệu đồng. Vụ việc bị phát hiện bà C bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bà C đã bị cơ quan cấp trên buộc thôi việc để xử lí trách nhiệm hình sự.

Ngoài ra hội đồng kỉ luật có thể xem xét, kiến nghị buộc thôi việc đối với các trường hợp sau:

- Đối với công chức phạm tội đã bị tòa án phạt tù nhưng được hưởng án treo, hoặc cải tạo không giam giữ, quản chế, cảnh cáo mà tội liên quan đến hoạt động công vụ thì có thể buộc thôi việc.

- Công chức đã bị xử lí bằng một trong các hình thức kỉ luật hạ bậc, hạ ngạch, cách chức mà tái phạm thì có thể buộc thôi việc.

- Công chức có hành vi vi phạm lần đầu nhưng có tính chất mức độ vi phạm nghiêm trong thì có thể buộc thôi việc.

III. Giải pháp

Tóm lại để có một nền công vụ đúng với bản chất Nhà nước Pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì dân nhân để thực hiện Cải cách Hành chính chúng ta cần thực hiện một số giải pháp cụ thể:

+ Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức, việc hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức đi theo đúng hướng pháp điển hóa ở mức cao như ban hành luật về công chức, đồng thời theo hướng chuyên biệt hóa, điều chỉnh đối với từng cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước .

+ Đi đôi với quá trình hoàn thiện pháp luật là quá trình đổi mới hoạt động thực tiễn của cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương về công tác cán bộ, khâu tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá khen thưởng, kỉ luật cán bộ, công chức, viên chức trong đó đặc biệt tới khâu quy hoạch cán bộ, công chức.

About these ads